cứu vật vật trả ơn
Cứu vật vật trả ân, cứu nhân nhân trả oán Ngày xưa, có một anh chàng không có tài nghề gì cả, chỉ được cái hiền lành hay thương người. Từ lúc vợ chết, anh ta trở nên túng bấn tợn. Có dạo phải ngửa tay ăn xin. Thấy nghề này hèn hạ lại không nuôi nổi tấm thân, anh chàng mới xoay sang đi làm thuê.
Cứu vật, vật trả ơn - Cứu nhân, nhân báo oán. Ngày xưa, có một anh chàng không có tài nghề gì cả, chỉ được cái hiền lành hay thương người. Từ lúc vợ chết, anh ta trở nên túng bấn tợn. Có dạo phải ngửa tay ăn xin Ngày xưa, có một anh chàng không có tài nghề gì cả
Chính vì lẽ đó mà dân gian có câu " cứu vật, vật trả ơn, cứu nhân, nhân trả oán", thật không sai chút nào. Tình người lòng dạ đổi thay. Ngoài môi, chót lưỡi những câu ân tình. Biết đền ơn, đáp nghĩa là một việc làm cao quý nhất trong cuộc đời, con người sống thiếu nó thì không có lòng nhân.
Xem 1,089. Bạn đang xem bài viết Cứu Vật Vật Trả Ơn Cứu Nhân Nhân Trả Oán được cập nhật mới nhất ngày 19/09/2022 trên website Kovit.edu.vn.Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để
Cứu Vật Vật Trả Ơn Cứu Vật Vật Trả Ơn. The Turtle and the False Brother : [Truyện Tranh Song Ngữ Việt Anh] Văn Minh Văn Minh. Vietnamese. Title rated 0 out of 5 stars, based on 0 ratings (0 ratings) You have not rated this title. Rate this title Rate this. Book, 2020.
Hãy suy nghĩ và trả lời câu hỏi trước khi xem đáp án. Môn: Sinh Học Lớp 10. Chủ đề: Mở đầu. Bài: Giới thiệu khái quát môn Sinh học. UREKA. Lời giải: Báo sai. Động vật học: nghiên cứu về hình thái, giải phẫu, sinh lí, phân loại và hành vi của động vật cũng như vai
whizzsihufle1985. Cứu vật, vật trả ơn – Cứu nhân, nhân trả oán là câu chuyện cổ tích Việt Nam, lên án những kẻ bất nghĩa, bụng còn nguy hiểm hơn cả những con vật nguy hiểm. 1. Anh chàng đi câu và con rắn Ngày xưa, có một anh chàng nghèo khó, không nghề nghiệp, nhưng được cái có tính hiền từ, lương thiện, rộng thương mọi người. Khốn khó hơn nữa, vợ anh lại chết sớm, bỏ lại anh ta một mình không biết làm cách nào để nuôi thân. Có dạo anh ta ngửa tay đi ăn xin, nhưng việc làm này cũng chỉ đủ sống qua ngày, mà lại thấy hèn hạ nữa. Anh ta xoay qua nghề làm thuê, nhưng bản chất vụng về, không ai chịu thuê mướn anh cả. Bất đắc dĩ, anh dành dụm được ba mươi đồng tiền, mua được một cái cần câu và xoay sang nghề câu cá. Suốt ngày, anh ngồi nơi bờ sông thả câu, nhưng có bữa không bắt được con cá nào, đành phải nhịn đói. Một hôm, anh vừa móc mồi buông câu thì thấy phao chìm xuống, anh giật lên té ra không phải cá mà là một con rắn nước. Lấy làm bực mình, anh gỡ con rắn ra rồi ném trả xuống sông. Lần thứ hai, anh giật lên, cần câu nặng trĩu, thì lại chính là con rắn nước lúc nãy. Anh than thở – Rắn ơi! Ta nghèo lắm. Ta chỉ có ba mươi đồng mua sắm cái cần câu này, ngươi đừng hại ta, làm hết cả mồi ta lấy gì kiếm ăn. Anh chàng lại ném con rắn xuống nước. Lần thứ ba, lại cũng con rắn đó mắc vào lưỡi câu. Lần này anh ta giận lắm, không thả rắn xuống nước nữa mà định bắt rắn đem về giết thịt. Khi anh ta đi qua cửa đền bà thần Khai Khẩu, tự nhiên con rắn nước nói – Đừng giết tôi! Tôi là con vua Thủy phủ, vì muốn kết bạn với anh nên tôi mới cắn câu nhiều lần như thế. Hãy cho tôi theo anh để giúp anh vượt qua cảnh nghèo khó. Anh chàng câu cá vốn sẵn tính nhân từ, nghe nói bỗng cảm tình, cho rắn theo mình, ngày đêm ở bên nhau như một người bạn thân. Từ đó, anh câu được rất nhiều cá, thứ ăn, thứ bán, cuộc sống rất dễ chịu. Một hôm, rắn lội xuống sông tìm mồi, qua một lúc trở về nói – Trong ba ngày nữa, sẽ có trận bão lụt rất lớn xưa nay chưa từng có, nếu không đề phòng sẽ bị chết trôi. Anh ta nghe lời rắn, chặt cây đóng một chiếc bè bằng nứa để đề phòng tai nạn. Anh lại loan báo cho mọi người xung quanh biết, nhưng không một ai nghe. Quả nhiên, ba ngày sau, gió bão nổi lên ầm ầm, trời mưa như trút nước, người, vật, đồ đạc và mùa màng nước dâng lên, trôi ra biển cả. Mãi cho đến lúc cơn bão tạnh, anh chàng mới chống bè tìm về chỗ cũ. Cứu vật, vật trả ơn 2. Người ân nhân trong trận bão lụt lớn Trên đường đi, anh thấy một ổ kiến đang lênh đênh trên mặt nước, anh định lấy sào đẩy ra xa, nhưng con rắn bảo – Hãy cứu chúng. Anh ta nói – Cứu làm gì bầy kiến, chúng sẽ bò khắp bè thêm khổ. Rắn bảo – Không! Anh hãy nghe tôi, rồi chúng sẽ trả ơn anh. Tuy không thiết tha đến việc kiến đền ơn, nhưng anh ta vì có lương tâm nên nghe lời rắn, vớt ổ kiến bỏ lên bè. Đi được một đoạn, anh ta lại gặp một con chuột đang lội bì bõm, sắp chết đuối. Rắn nói – Hãy mau vớt lấy nó. Anh đáp – Con chuột thì cứ để nó chết chứ cứu làm gì? Rắn nói – Không! Anh hãy nghe tôi đi. Rồi nó sẽ trả ơn anh. Nghe lời rắn, anh ta lại vớt con chuột lên bè. Đến một chỗ khác, chàng lại gặp một con trăn đang nằm cuộn tròn trên một ngọn cây giữa dòng nước đợi chết. Rắn cũng giục anh giúp con trăn thoát nạn. Anh chàng lẩm bẩm – Con trăn là loài vật hung dữ, cứu nó làm gì? Rắn nói – Không! Anh nên nghe lời tôi. Rồi nó sẽ trả ơn anh. Nghe lời rắn, anh ta lại giúp cho trăn lên bờ. Sau cùng, chàng gặp một người đàn ông đang bám vào một khúc gỗ trôi giữa dòng nước. Anh ta không đợi rắn bảo ghé bè lại để cứu. Rắn cản lại – Anh đừng vớt hắn lên làm gì. Hắn sẽ làm hại anh đấy. Anh ta đáp – Người ta thường nói “Cứu một người dân gian bằng một ngàn người âm phủ”. Sao lại quý mạng con vật hơn con người. Rồi mặc kệ con rắn ngăn cản, anh ta vớt người sắp chết đuối đó lên bè, cho ăn uống tử tế. 3. Cứu nhân – nhân trả oán Sau mấy ngày rút nước, anh ta thả tất cả những con vật lên bờ, con người nọ vì nhà cửa tiêu tan, nên anh cho ở lại với mình cùng câu cá nuôi nhau, coi như anh em ruột. Được một thời gian ngắn, con rắn muốn trở về Thủy phủ, lại rủ anh chàng đi theo để biết giang sơn của cha mình. Anh bằng lòng đi chơi. Dọc đường, rắn bảo bạn – Cha tôi là vua Thủy phủ, không thiếu gì châu báu, anh là bạn của tôi, thế nào cũng được trọng đãi. Nếu cha tôi có cho gì anh đừng nhận, chỉ xin cho một chiếc đàn thất huyền mà thôi. Chiếc đàn ấy rất màu nhiệm, có thể phá tan được quân giặc. Đúng như lời của rắn nói, vua Thủy phủ thấy bạn của con mình đến chơi, rất quý trọng, định cho nhiều báu vật, nhưng anh ta chỉ xin mỗi một cây đàn. Vua Thủy phủ thuận tình, trao chiếc đàn cho anh và đưa tiễn lên cõi đất. Anh trở về rất quý trọng cây đàn, nhưng một hôm, có việc phải đi xa, anh cất chiếc đàn nơi bồ lúa, dặn người bạn chớ nên lục lạo ở nơi đó. Người bạn ngờ là anh cất giấu của cải nên đợi anh đi xa rồi lập tức bới bồ lúa lấy cây đàn ra. Hắn cũng đã được nghe anh nói về sự màu nhiệm của chiếc đàn này nên vội vàng mang vào cung vua để lập công danh. Bấy giờ gặp lúc quân đội nhà vua bị quân nước láng giềng đến quấy phá, hắn tâu với vua xin cho đi dẹp loạn. Nhờ có chiếc đàn thần, hắn đã làm cho quân địch tan tác, phải rút về nước. Dẹp yên được giặc, nhà vua khen ngợi và phong hắn làm đại tướng, ban bổng lộc rất hậu. Được giàu sang, hắn không nghĩ gì đến ơn người đã cứu mạng mình nữa. Nhà vua lại toan gả công chúa cho hắn thì bỗng dưng công chúa bị mắc một căn bệnh không nói được nên lễ hôn nhân đình lại để tìm thầy thuốc chữa bệnh. Nhắc lại anh chàng câu cá, lúc trở về nhà không thấy người bạn đâu, lại mất luôn cây đàn thì vội vàng đi tìm. Vào đến kinh đô, anh gặp được người bạn mình đã cứu giúp. Hắn bây giờ ngồi trên kiệu sơn, có quân lính theo hầu hạ, quần áo toàn là nhung gấm rất sang trọng. Anh chàng câu cá đón kiệu lại, cất tiếng hỏi thăm bạn cũ. Nhưng người kia vừa gặp ân nhân của mình vội hét lính bắt trói và để khỏi lộ chuyện. Hắn vu cho anh chàng câu cá là giặc, sai nhốt vào ngục tối, không cho ăn chờ ngày đưa ra pháp trường xử trảm. 4. Cứu vật – vật trả ơn Nằm trong ngục tối, anh câu cá than thở, oán hận con người phản phúc, đột nhiên lũ kiến xuất hiện cất tiếng hỏi – Sao anh lại bị giam ở đây? Anh chàng câu cá ngơ ngác, không biết ai hỏi nên hỏi lại – Ai đó? Tại sao chỉ nghe tiếng nói mà không nhìn thấy người? Bầy kiến đáp – Chúng tôi là bầy kiến đã được anh cứu thoát nạn ngày xưa, hiện đang ở dưới chân anh đây. Anh chàng câu cá kể lại đầu đuôi câu chuyện cho bầy kiến nghe. Bầy kiến nghe xong nói – Chúng tôi không thể làm gì để cứu anh được, nhưng có thể đi tìm con chuột, may ra chuột có cách gì giúp anh. Bầy kiến bèn chia nhau đi tìm chuột và báo tin cho bầy chuột hay tình trạng không may của ân nhân. Chuột bảo – Bây giờ chắc anh ta đang đói lắm, nhưng tôi chỉ có thể mang thức ăn vào ngục để cứu anh ta thôi. Tôi sẽ đi tìm con trăn ngày xưa, may ra có cách gì chăng. Lũ chuột liền tha thức ăn lấy trộm được ở nhà bếp mang vào ngục cho anh ăn. Sau đó, cả gia đình chuột cùng bầy kiến đi tìm trăn. Cả bầy chuột đều sợ trăn ăn thịt nên không dám ra mặt, chỉ có con chuột già liều mạng leo lên cây, gọi con trăn, nói – Bác trăn ơi! Người ơn của ta trước kia nay bị nạn rồi! Tiếp đó, chuột kể lại đầu đuôi câu chuyện cho trăn nghe. Trăn liền nhả ra một viên ngọc, bảo chuột đem về trao cho ân nhân và dặn – Viên ngọc này mài ra có thể trị được bệnh câm của công chúa. Ân nhân của chúng ta có thể nhờ đó mà thoát nạn. Khi có được viên ngọc, anh chàng câu cá gọi người cai ngục lại, nhờ tâu với vua là mình có thuốc chữa được bệnh câm của công chúa. Quả nhiên, sau khi công chúa uống nước viên ngọc mài ra thì nói được câu đầu tiên là sẽ lấy người cứu mình làm chồng. Nhà vua mừng rỡ, hỏi anh ta vì sao mà có thứ thuốc thần diệu như vậy. Anh chàng câu cá kể rõ câu chuyện từ đầu đến cuối, từ lúc câu được rắn nước, cứu các con vật trong trận bão lụt đến lúc cứu được người thì bị người phản bội, còn cứu vật – vật trả ơn, trong đó con trăn cho viên ngọc để cứu công chúa. Nhà vua nghe xong, nói – Thật là bụng dạ hắn nguy hiểm hơn cả những con vật nguy hiểm. Lập tức vua sai lính bắt tên đại tướng bất nhân, bất nghĩa kia giam vào ngục để chờ ngày xét xử. Còn anh chàng câu cá thì được vua phong quan tước và gả công chúa cho. Câu chuyện Cứu vật, vật trả ơn – cứu nhân, nhân trả oán – – Truyện Cứu vật, vật trả ơn – Cứu nhân, nhân trả oán Ý nghĩa truyện Cứu vật, vật trả ơn – Cứu nhân, nhân trả oán Nội dung câu chuyện có vài chi tiết giống với truyện Thạch Sanh – Lý Thông, lên án những kẻ bất nhân, bất nghĩa, bụng dạ của chúng còn nguy hiểm hơn cả những con vật nguy hiểm. Tác giả dân gian nhở chúng ta cần phải luôn có sự đề cao cảnh giác đối với những người xa lạ. Lòng tốt và tình thương cần phải đặt đúng nơi, đúng chỗ. Câu chuyện còn có tác dụng góp phần làm tăng thêm tình yêu và sự gần gũi của các bạn nhỏ dành cho các con vật xung quanh trong cuộc sống hàng ngày.
Website chuyên thông tin về đạo Phật. Thư viện phật giáo gồm các clip sinh động về học Phật, đọc Pháp, hình ảnh chân thực các vị Phật, Bồ Tát Tin tức Phật học Danh tăng Văn học Văn hóa Tự viện Các Chùa Trong Nước Các Chùa Trên Thế Giới Phật pháp Giáo pháp Bước đầu học phật Lịch sử Nghi thức Từ thiện Thư viện audio Âm nhạc Pháp âm Radio phật giáo Nhạc chờ phật giáo Thư viện video Pháp thoại Thư viện ảnh Hình phật Hoa sen Chú tiểu Danh lam thắng cảnh Vật trả ơn, người trả oán vì sao lại như thế? Biết đền ơn, đáp nghĩa là một việc làm cao quý nhất trong cuộc đời, con người sống thiếu nó thì không có lòng nhân. Biết ơn và đền ơn là đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây. Ngày xưa, có một đất nước nọ, ông vua sống rất nhân từ, đạo đức, thông suốt việc đời cho đến việc đạo. Ông thấy rõ kiếp sống con người tạm bợ, mong manh, mạng người sống trong hơi thở, vì công danh, sự nghiệp, vợ đẹp, con ngoan mà nhiều người đành lòng giết hại, trộm cướp, lừa gạt mà bức hại, làm khổ lẫn vậy, vua liền từ bỏ tất cả, đi qua nước khác, tìm thầy học đạo và xuất gia làm người tu hành. Gần hai mươi năm, ông lánh xa thế gian trần tục, tinh tấn tu hành, sống đời đạm bạc. Chỗ ông đang ở có một hang sâu, không có đường hôm, có anh thợ săn vì ham đuổi theo con mồi mà rớt xuống hang. Vị thầy tu đó nghe tiếng kêu cứu, liền chặt dây leo thả xuống. Anh thợ săn nhờ vậy mà thoát chết. Lúc đó, anh đã bắt được một con rắn và một con quạ, nhốt chung vào cái rọ đeo bên thấy hai con vật tội nghiệp nên vị thầy thương tình, mở rọ ra thả chúng đi. Riêng anh thợ săn thì thương tích đầy mình, và thầy nhiệt tình chăm sóc. Sau đó, anh thợ săn phục hồi được sức khỏe, cám ơn rối rít vị ân nhân cứu mình và hứa sẽ có ngày đền ơn, đáp xong, anh chỉ cho thầy ngôi nhà ở bìa rừng và mời thầy khi nào có dịp thì ghé nhà chơi để gia đình có dịp hậu tạ. Trước đó, hai con vật được cứu thoát cũng đã thầm hứa khi thầy gặp chuyện không may, chúng sẽ hết lòng tìm phương cứu quạ sau khi thoát chết luôn tìm cách trả ơn thầy. Nó nghĩ mãi vẫn không có cách nào để đền ơn xứng đáng. Cuối cùng, nó sực nhớ ra, liền bay vào cung vua lúc nửa đêm để lấy cắp hạt kim cương quý giá của hoàng hậu. Sau đó, nó tìm đến vị thầy để đền ơn cứu mạng bằng cách dâng kính thầy hạt kim hậu sau khi ngủ dậy mới phát giác ra hạt kim cương bị mất, liền báo cho vua biết. Vì là vật gia bảo quý giá nên nhà vua truyền rao khắp tất cả thần dân thiên hạ, nếu ai tìm được viên kim cương sẽ được tặng đất đai, nhà cửa, tiền bạc và các nhu cầu cần thiết. Lệnh thông báo được truyền đi khắp nơi từ thành thị phồn náo đến hang cùng ngõ hẻm nên ai cũng biết vị thầy, sau khi nhận hạt kim cương mới nghĩ rằng gia cảnh anh thợ săn chắc rất túng thiếu nên khởi lòng từ bi đem đến tặng anh ta, không ngờ tai họa bắt đầu ập đến. Tên thợ săn nhân cơ hội này trói vị thầy ân nhân đã cứu sống mạng mình, nộp cho nhà vua để được nhận đầy đủ các thứ nhà vua vua hỏi vị thầy “Hạt kim cương này do đâu mà ngươi có, hãy mau thành thật khai báo”. Vị thầy suy nghĩ, nếu ông nói thật ra thì tất cả loài quạ trên thế gian này sẽ bị tiêu diệt hết. Còn nếu tự mình nhận lấy thì phạm giới tu hành sẽ làm cho mọi người mất tín tâm. Nghĩ vậy nên thầy đành im lặng, một mực cam chịu sự đánh đập, hành hạ dã man. Tuy vậy, thầy không khởi tâm oán giận nhà vua, mà còn khởi lòng bi mẫn, thương xót phát nguyện sau khi thành tựu đạo lý giác ngộ giải thoát, sẽ độ nhà vua trước tiên. Nhà vua thấy ngài bị tra tấn dã man mà không hề có thái độ sợ hãi, nên truyền lệnh chôn sống vị thầy, chỉ chừa cái đầu bên trên. Con rắn hay tin thầy bị oan gia vì muốn giúp người mà đành chịu khổ, nó tức tối nên tìm cách cứu đó, rắn bò vào cung, cắn chết thái tử là đứa con duy nhất của nhà vua. Xong, nó bò về chỗ thầy bị chôn sống, trao thuốc giải độc cho thầy, rồi từ biệt thầy ra đi. Thương tiếc đứa con duy nhất, nhà vua truyền lệnh, nếu ai cứu được thái tử, ông sẽ nhường lại nửa giang sơn. Danh y các nơi nghe thế đều tìm về cung chữa trị, nhưng tất cả đều bó tay, chào thua. Tin thái tử chết và tin thầy tu bị chôn sống được lan truyền rất nhanh. Người hiểu đạo thì tội nghiệp cho nhà vua, người không hiểu thì nói đáng đời cho nhà vua, kẻ thì nói gieo gió thì gặt bão, họ bàn tán xôn xao vì sự oan trái này. Một người lính đi ngang chỗ thầy tu đang bị chôn sống, vừa đi vừa thốt lên tội nghiệp cho nhà vua quá, có đứa con duy nhất mà giờ phải chịu chết vì rắn cắn. Vị thầy nghe vậy mới nói rằng “Tôi có thuốc giải độc rắn cắn hay lắm”.Bạn đang xem Giúp người người trả ơn Thế là tên lính liền đem thuốc giải về trình vua và cho thái tử uống thử. Thật là mầu nhiệm! Mười phút sau, thái tử hồi tỉnh lại trong sự vui mừng của tất cả mọi người. Nhà vua liền truyền lệnh mau cứu sống vị thầy tu và quỳ xuống ăn năn sám hối “Mong thầy tha thứ lỗi lầm, con vì người phàm mắt thịt nên xém chút đã giết oan một người tu hành chân chính như thầy”.Sau đó, nhà vua cùng quan quân, gia đình, người thân đồng đến quy y nương tựa thầy cầu mong sự chỉ dạy. Vị thầy vì lòng từ bi cao cả nên đã chấp nhận hết mọi oan gia đau khổ, để tất cả chúng sinh được sống bình yên, hạnh đó, thầy hướng dẫn cho vua biết tin sâu nhân quả, khuyên nhủ mọi người làm lành, lánh dữ để cùng nhau sống yêu thương, hiểu biết, để đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau. Sau khi mọi việc xong xuôi, nhà vua mới hỏi “Tại sao thầy lại không nói lên sự thật?” – “Nếu ta nói lên sự thật thì các loài quạ trong nước đều phải bị hủy diệt hết. Chính vì lẽ đó nên ta không nói. Còn nếu nói sai sự thật thì cũng phạm vào giới cấm, làm cho người khác càng mất niềm tin nơi Phật pháp, ta thà cam chịu đau thương để mọi loài không bị tổn hại”. Vua nghe xong hai hàng lệ rơi mà càng cung kính thầy, vừa cảm phục đức độ của vị chân tu, vừa hổ thẹn vì sự phán xét sai lầm của đến, nhà vua truyền lệnh chu di ba họ gia đình anh thợ săn, nhưng vị thầy xin vua hãy tha thứ, để anh ta có cơ hội làm mới lại chính mình. Vua nghe lời và từ đó phát tâm xây dựng chùa chiền để hướng dẫn cho mọi người tu chuyện ngụ ngôn trên nói lên sự bạc bẽo của con người khi không có sự hiểu biết chân chính, không có lòng nhân, không có tình người, không tin sâu nhân quả. Chính vì không tin sâu nhân quả, tin không có đời sau mà người ta đành lòng giết hại lẫn nhau để bảo tồn mạng sống cho riêng mình. Kẻ có quyền cao chức trọng thì nhân danh thượng đế, buộc mọi người phải kính cẩn tôn người vì có hiểu biết nên hơn hẳn các loài vật nhờ biết suy nghĩ, quán chiếu, tìm tòi, biết vận dụng đi theo chiều hướng tốt đẹp, cùng giúp nhau sống an vui, hạnh phúc. Nếu si mê, chấp ngã thì tìm cách chiếm hữu của kẻ khác bằng nhiều hình thức, miễn sao lợi cho mình là được, còn ai khổ đau mặc các loài vật thì sao? Khi ai cứu nó, nuôi nó, nó sẽ nhớ ơn suốt đời, không bao giờ có tâm phản phúc, mà còn tìm cách để trả ơn và đền ơn. Chính vì lẽ đó mà dân gian có câu “Cứu vật, vật trả ơn, cứu nhân, nhân trả oán”, thật không sai chút người lòng dạ đổi thayNgoài môi, chót lưỡi những câu ân thêm Tác Dụng Của Nước Đậu Đen Rang, Đậu Đen Có Thực Sự Là “Thần Dược”Biết đền ơn, đáp nghĩa là một việc làm cao quý nhất trong cuộc đời, con người sống thiếu nó thì không có lòng nhân. Biết ơn và đền ơn là đạo lý uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây. Hiện tại, người Việt Nam chúng ta vẫn giữ được truyền thống tốt đẹp và cao cả này. Ai phủ nhận công ơn của cha mẹ, công ơn của thầy Tổ, công ơn của đất nước, công ơn của tất cả chúng sinh, kẻ đó gọi là “người vong ơn bội nghĩa”.Ơn cha mẹ là ơn cao cả nhất. Mẹ mang nặng, đẻ đau, cha làm lụng vất vả, nhọc nhằn, chịu cực khổ, mà không hề oán than, chỉ một lòng mong cho con trẻ mau được lớn khôn để nên danh phận ở đời. Đó là sự mong muốn của các bậc làm cha đời, các em học sinh còn phải biết ơn thầy cô giáo dạy chữ, dạy nghề. Trong đạo pháp, ơn thầy Tổ thì vô cùng cao quý. Cha mẹ làm nên thân ta, thầy cô giúp ta có hiểu biết và công ăn việc làm. Thầy Tổ giúp ta giới, thân, huệ mạng trang nghiêm, trong sạch, sống có nhân cách và đạo đức. Đức Phật ngày xưa, khi thọ ơn ai một điều gì, dù nhỏ nhặt nhất vẫn nhớ và tìm cách trả một kiếp quá khứ, Ngài thọ ơn một người vì đã nói một lời an ủi. Kiếp hiện tại, vị ấy là đệ tử xuất gia theo Phật, nhưng bị bệnh ghẻ lỡ, hôi hám, do quả báo kiếp trước khi làm quan đánh đập, hành hạ nhiều người oan sai, hiện tại phải bị quả báo bệnh khổ. Phật đích thân cùng ngài A Nan đến chỗ đệ tử thăm bệnh và ân cần hỏi han, chăm sóc. Chính Phật đích thân nấu nước, tắm rửa, lau chùi cho thầy tỳ kheo cơn khốn đốn, khổ bệnh hành hạ, vị tỳ kheo được Phật quan tâm, tận tình chăm sóc, như được uống nước cam lồ nên thân tâm cảm thấy nhẹ nhàng, an ổn. Song, Phật chỉ dạy phương pháp quán bệnh khổ, vị tỳ kheo tinh cần miên mật, nhiếp tâm quán chiếu mà chứng quả giác ngộ giải bây giờ yên ổn tu hành, không phải bận rộn lo toan các thứ, vì đã có nhiều người hy sinh, chịu khổ, bảo vệ đất nước, giữ gìn an ninh, trật tự cho mình. Họ đã phải can đảm chấp nhận xa lìa người thân, bảo vệ biên cương, bờ cõi. Ta cần phải cám ơn các nhà lãnh đạo đất nước, cùng các chiến sĩ đã hy sinh thầm lặng. Một đất nước luôn bị giặc giã, luôn bị chiến tranh, thì thử hỏi ta có thể yên ổn tu hành hay không? Do đó, Phật dạy ta phải biết ơn đất nước mà cố gắng tu hành để được an lạc hạnh phúc mà dấn thân phục vụ tốt đạo, đẹp đời. Và còn một ơn này nữa cũng tối quan trọng, đó là ơn tất cả chúng sinh và bầu vũ trụ bao la này. Ta không làm ruộng nhưng vẫn có cơm ăn, ta không nuôi tằm dệt vải nhưng vẫn có áo quần mặc ấm. Biết bao con người phải làm lụng vất vả, hành nghề giết mổ để ta được ăn ngon, sống khỏe và bảo tồn mạng sống. Ơn nghĩa ở thế gian là bao la, vô cùng tận, ta không thể nhất thời mà trả hết những công ơn đó, Phật dạy ta biết ơn và đền ơn là đạo lý uống nước nhớ nguồn. Ai sống luôn nhớ nghĩ và thực hành như vậy, sẽ là những phật tử chân chính sống đúng theo lời dạy của Như Lai Thế Tôn.
Trong dân gian có truyền tụng một câu thành ngữ “Cứu vật vật trả ơn, cứu nhân nhân trả oán”. Câu thành ngữ này khá phổ biến trong công chúng vì có nhiều người đã từng nói hoặc đã từng nghe. Thông thường nhất là trong giao tiếp mỗi khi bị một người có lần được ta cứu giúp rồi lại dối gạt, lừa phỉnh hoặc phản bội, lúc đó ta thường thốt lên một cách cay đắng cứu vật vật trả ơn, cứu nhân nhân trả oán! Câu này bản thân tôi lần từ khi đang còn đi học cũng đã từng nghe rất nhiều. Nhưng nghe mà lòng cứ thắc mắc mãi sao lại thế nhỉ, làm sao mà có chuyện ngược đời như thế, con vật thì chỉ biết sống bằng bản năng làm sao nó có lý trí để biết mang ơn ai để báo đáp, còn con người thì có lý trí biết phân biệt phải trái, biết ai giúp mình, ai hại mình để mà ứng xử cho đúng chứ, sao lại có chuyện dùng oán để trả ơn cho người đã cứu giúp mình? Sự thắc mắc cứ đeo đẳng mãi mà không lời giải thích nên tôi cố tìm hiểu lý do thì mới biết trong chuyện cổ tích nước ta có một câu chuyện như thế, có một anh chàng trong quá khứ đã có cơ hội cứu các con vật và cứu một người, nhưng sau này chính người được anh cứu đã vì lòng tham lam nên tìm cách hại chết anh để lấy công với vua, nhưng cũng chính nhờ các con vật đã được anh cứu khi thấy anh bị hại đã tìm cách cứu và anh cuối cùng được giải oan và được vua ân thưởng. Câu thành ngữ trên là để minh họa cho chuyện đó. Tôi cứ nghĩ đây là một trường hợp hy hữu chứ không phải thường hay xảy ra, nhưng sau này tìm hiểu thêm tôi mới biết thì ra câu chuyện trên có rất nhiều dị bản không những ở nước ta mà các nước trên thế giới kể cả trong truyện cổ Phật giáo cũng có một chuyện tương tự như thế. Như thế thì trong đời sống chuyện con người dùng oán báo ân đâu phải hiếm! Tôi cứ băn khoăn mãi và rồi tôi tìm một lời giải thích theo ý của mình, tôi cho rằng thật ra câu này là một câu cảm thán chỉ đúng trong những trường hợp khi bị một ai đó chịu ơn ta mà lại phản bội ta thôi và chỉ đúng trong hoàn cảnh đó thôi, chứ nó không thể đúng với đa số chứ đừng nói chi đến coi nó như một phát ngôn mang tính xác quyết, hoặc xem nó như là chân lý vậy! Đồng ý rằng chúng ta đang sống trong một thế giới tương đối, con người cũng có người này người khác, thế gian mà! bởi vậy trần gian mới có lắm chuyện xảy ra, có lắm chuyện để nói. Trong xã hội có nhiều người sống lương thiện với tâm thiện, biết làm lành tránh dữ, biết gieo nhân phước đức, nhưng cũng không ít người sống gian manh lừa thầy phản bạn, chẳng những vong ân bội nghĩa mà còn đem oán báo ân nữa! “Lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan, lấy oán báo oán, oán ấy chập chùng”. Chính vì vậy mà nó tạo nên một xã hội muôn màu muôn vẻ, một xã hội luôn biến động không lúc nào yên lành. Nhưng xét về tổng thể, con người có lý trí, lại có cơ hội được học đạo lý nên biết nhận định để phân biệt phải trái, thiện ác mà hành xử cho đúng với lương tâm và phù hợp với đạo lý, nên bản chất của con người không phải là đem oán báo ân mà phải lấy ân báo ân. Hoặc chí ít cũng “ân đền oán trả”, đó là luật công bằng. Thế nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc thực hiện luật công bằng, ân đền oán trả thì oán đối sẽ kéo dài không dứt và có khuynh hướng biến sự thù oán ngày càng nghiêm trọng hơn. Nợ máu phải đền bằng máu hoặc mạng đổi mạng mới nghe qua chúng ta thấy rất sòng phẳng, thế nhưng đó là một lối hành xử rất bạo lực và tạo sự oán kết kéo dài gây ra biết bao nhiêu là hệ lụy không tốt cho con người, cho xã hội. Giáo lý của Đức Phật không chỉ dừng lại ở luật công bằng mà dạy con người cần làm hơn thế nữa đó là LẤY ÂN BÁO OÁN “Lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan, lấy oán báo oán, oán ấy chập chùng”. Ta thấy Đức Phật dạy con người đối nhân xử thế, hành xử về ân, oán trong đời sống như thế là rất cao thượng, rất bao dung, thể hiện lòng từ bi không bờ bến vượt lên trên tất cả các giáo thuyết của những tôn giáo khác rất nhiều. Đối với nhân thế người ta kêu gọi phải đem lẽ công bằng ra mà ứng xử tức là ân đền oán trả, Đức Phật thì kêu gọi đem lòng từ bi đối với muôn loài ra mà sống, vì chỉ có lòng từ bi và sự bao dung mới hóa giải mọi oán kết và cũng chỉ có lòng từ bi và lòng bao dung mới xây dựng cho ta cho con người, cho xã hội có một cuộc sống an lạc, hạnh phúc thực sự. Hãy lấy lòng từ và bao dung mà đối xử với nhau, lời dạy của Đức Phật có giá trị như là một chân lý áp dụng trong đời sống mà bất kỳ ai cũng có thể áp dụng chứ không cần họ phải là một tín đồ đạo Phật. Chúng ta cũng thấy trong xã hội những con người với tấm lòng quảng đại và hành xử theo cách lấy ân báo oán cũng rất nhiều. Trong cuộc sống hằng ngày ta vẫn thấy có rất nhiều tấm lòng bao dung và độ lượng trong hành xử, có thể họ là phật tử, có thể không, nhưng với tấm lòng từ bi và bao dung ấy họ chính là những bồ-tát giữa đời thường vậy! Đó là những tấm gương sáng cho ta noi theo. Chúng ta cũng thấy trong xã hội những con người với tấm lòng quảng đại và hành xử theo cách lấy ân báo oán cũng rất nhiều. Chính nhờ những tấm lòng nhân ái đó đã giúp xây dựng một xã hội yên bình và giúp cho “người và người sống để thương nhau”. Thế nên bạn cứ an tâm đi cứu vật vật trả ơn, cứu nhân nhân cũng trả ơn và còn hơn thế!
Truyện cổ tích Việt Nam Ngày xửa ngày xưa ở làng nọ có anh chàng chẳng tài chẳng nghệ, nhưng lại được cái là tính tình hiền lành và hay thương người. Từ khi vợ anh ta chết thì anh ta càng ngày càng túng bần hơn trước. Còn có dạo thì anh ta còn phải đi ngửa tay mà ăn xin nữa. Nhưng bởi vì nghề này lại hèn hạ, hơn nữa cũng chẳng kiếm đủ nuôi thân, vì vậy anh chàng liền đổi nghề đi làm thuê làm mướn ở khắp nơi. Nhưng mà chỉ làm có một ngày thì anh đã cảm thấy cả người mệt nhọc, lại còn bị mấy người chủ la mắng thậm tệ, bởi vậy nên anh lại định đổi sang nghề câu, chính là cái nghề mà anh cảm thấy tự do và thong thả hơn nhiều. Buổi chiều ngày hôm đó thì người ta trả cho anh ba mươi đồng kẽm. Với số tiền ít ỏi ấy anh định để làm vốn đem đi mua lưỡi câu và dây câu quyết tâm kiếm sống bằng nghề mới này. Sáng ngày hôm sau, anh liền ra bờ sông ngồi câu cá. Tuy nhiên thì đến tận khi trời đã trưa muộn mà anh vẫn chưa kiếm được chút gì. Mà đống mồi anh mang theo cứ từng chút từng chút một mất toi vô ích. Đến tận khi trời đã về chiều thì anh mới thấy phao câu chìm xuống dưới, anh lập tức giật dây câu lên và thấy một con rắn nước cắn mồi. Anh chàng bực mình lắm, liền gỡ con rắn nước ấy ra rồi quẳng ngay nó xuống sông. Rồi lần thứ hai anh giật câu lại vẫn nhìn thấy con rắn nước hồi nãy cắn câu lần nữa. Anh liền than thở rằng – Này rắn ơi! Tao đây đã nghèo lắm rồi, cũng chỉ có ba mươi đồng kẽm thôi đấy. Mày đừng có hại tao hết luôn chỗ mồi này, rồi đây thì tao biết lấy gì để mà kiếm ăn đây? Anh lại gỡ rắn khỏi lưỡi câu và quẳng nó xuống dưới sông. Nhưng lần thứ ba anh ta câu được vẫn lại là con rắn khi nãy. Nhưng lần này thì anh vô cùng giận dữ, anh không thèm thả nó đi nữa mà túm lấy cổ nó mang đi định giết. Khi ngang qua cửa đền của bà thần Khai Khẩu, đột nhiên con rắn nước kia kêu lên – Ấy khoan, đừng có giết tôi, tôi đây chính là con của vua Thủy phủ. Bởi vì muốn làm bạn cùng với anh nên tôi mới tự mình cắn câu của anh nhiều lần thế đây. Anh hãy cho tôi theo anh đi, tôi có thể giúp cho anh vượt qua mọi cảnh nghèo khó trong đời. Thấy rắn nói vậy thì anh chàng cũng nghe lời mà cho rắn theo bên người. Cũng kể từ ngày đó thì anh đi câu được nhiều cá hơn, có thứ ăn, lại có thứ bán nên cuộc sống của anh cũng trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Và anh cùng với rắn lại ngày càng tương đắc hơn. Vào một ngày kia, rắn nói với anh rằng ba ngày nữa thì nơi này sẽ xảy ra trận lụt vô cùng lớn mà trước nay chưa từng xuất hiện. Anh chàng liền nghe theo lời rắn mà đóng lấy một chiếc bè bằng nứa để đề phòng tai nạn. Hơn nữa anh cũng tốt bụng đi loan tin cho tất cả mọi người ở xung quanh cùng biết. Tuy nhiên lời nói của anh chả người nào thèm nghe thèm tin cả. Sau ba ngày thì quả nhiên là trời nổi đầy giông bão, mưa to trút xuống làm nước sông dâng lên cao như là biển cả vậy. Tất cả người cùng vật, còn có đồ đạc cùng với mùa màng ở khắp nơi đều bị cuốn đi mất tích. Cho đến tận ngày mà cơn bão ấy đã tạnh thì anh chàng kia mới chống chiếc bè nứa của mình tìm về nơi chốn cũ. Khi nhìn thấy một tổ kiến lềnh bềnh nổi ở trên mặt nước thì rắn mới bảo anh – Này anh, mau cứu đám kiến kia đi. Anh chàng liền đáp lại – Vớt làm chi cái bầy kiến nhỏ tí ấy, để cho chúng nó bò ra khắp bè à! Tuy nhiên thì rắn vẫn khẩn khoản mà nói – Không được, anh nghe lời của tôi đi mà. Sau này chúng nó khắc trả ơn anh xứng đáng. Và rồi anh cũng ngoan ngoãn nghe lời của rắn, anh vớt cả tổ kiến kia lên bè. Nhưng đi thêm một đoạn nữa thì anh lại gặp thêm được con chuột đang bì bõm lội nước, nhìn như sắp chết đuối rồi vậy. Và rắn lại bảo anh cứu vớt chuột lên. Nhưng anh lại trả lời – Ồ, chuột thì cứ để cho nó chết đi chứ cứu nó lên để làm gì chứ? Rắn vẫn kiên quyết nói – Không được, anh nghe lời của tôi đi mà. Sau này nó khắc trả ơn anh xứng đáng. Anh lại nghe theo lời rắn và cứu vớt con chuột sắp chết đuối kia lên bè. Và họ lại tiếp tục đi tiếp, rồi họ trông thấy một con trăn lớn, nó đang cuộn tròn ở trên ngọn cây ngay giữa dòng nước lũ để đợi chết. Lần này rắn cũng lại bảo anh cứu giúp con trăn kia. Anh lại nói – Ồ, nhìn con trăn kia kinh lắm, chúng ta sao lại cứu nó thế? – Không được, anh nghe lời của tôi đi mà. Sau này nó khắc trả ơn anh xứng đáng. Và anh lại tiếp tục nghe lời của rắn mà cứu trăn lên bè của mình. Và cuối cùng thì họ lại gặp được một người đàn ông, người này đang cố sức bám víu lấy cây gỗ và nổi lềnh bềnh ngay giữa dòng nước lũ. Lần này thì anh chẳng đợi cho rắn bảo gì đã định cứu người kia lên, nhưng mà rắn lại cản anh và bảo – Này anh à, đừng có cứu nó, sau này nó tất sẽ làm hại anh. Nhưng anh lại nói – Nhưng mà người ta chẳng bảo cứu một người ở dương gian thì bằng một ngàn người âm ty hay sao. Vậy thì sao chúng ta chỉ cứu vật lại không cứu người chứ? Nói xong mặc cho rắn hết mực can ngăn nhưng anh vẫn quyết định theo suy nghĩ của bản thân, đem người đang sắp chết đuối kia vớt lên trên bè của mình, rồi còn cho người đó sưởi ấm cùng ăn uống vô cùng tử tế nữa. Mấy ngày nữa qua đi, cuối cùng thì nước cũng đã rút hết, và anh chàng liền thả tất cả những con vật mà mình cứu được lên bờ. Còn về phía người kia bởi vì gia đình đã phiêu bạt, hơn nữa nhà cửa cũng trôi mất hết nên anh liền cho người đó ở lại cùng với mình rồi cùng nhau câu cá để nuôi thân, cũng coi người đó như em ruột trong nhà mà đối đãi. Đến ngày rắn nước phải trở lại Thủy phủ, nó liền mời anh chàng cùng theo mình cùng xuống dưới thủy cung của cha mình chơi vài ngày. Trên đường đi thì rắn có dặn anh rằng – Nếu như xuống đó cha tôi có tặng anh cái gì thì nhớ đừng có nhận đấy, rồi anh hãy xin cây đàn thất huyền đấy. Cây đàn ấy nếu như có giặc thì chỉ cần gảy một bài thôi mà có thể đánh cho giặc tan tác. Khi vua Thủy nhìn thấy con mình trở về còn mang theo bạn tới chơi thì vui mừng lắm, khoản đãi anh vô cùng hậu hĩnh. Rồi sau đó vua Thủy còn sai quân hầu của mình đem rất nhiều vàng bạc châu báu ra biếu nhưng là anh nhớ lời mà rắn dặn nên khước từ ngay, và cũng chỉ xin mỗi cây đàn thất huyền thôi. Vì nể chàng nên vua Thủy thuận lòng mà cho chàng ngay. Khi anh trở lại nơi đất liền thì vô cùng quý mến chiếc đàn là món quà của vua Thủy. Vào một ngày nọ anh chàng có việc nên phải đi rất xa. Trước lúc anh ra đi thì cũng không quên giấu chiếc đàn thần của mình xuống dưới đáy cót thóc, cũng không quên dặn người bạn sống chung với mình chớ bén mảng tới gần chỗ cót thóc ấy. Tuy nhiên thì người kia khi nghe lời dặn của anh thì biết rằng đồ vật giấu ở dưới đất chắc chắn là vật quý. Vì thế đợi cho anh chàng đi khỏi thì bèn tìm kiếm ngay, cuối cùng cũng tìm được cây đàn ở dưới cót thóc. Và hắn cũng đã biết được sự nhiệm màu của cây đàn nên lấy trộm nó rồi lập tức bỏ trốn tới kinh đô mục đích để tạo lập công danh cho bản thân. Lúc bấy giờ là thời gian mà quân đội của nhà vua đang phải đối đầu với nước láng giềng, bởi nước kia luôn kéo quân sang bờ cõi nước ta để mà quấy nhiễu. Hắn liền mang theo đàn thần vào cung tâu với vua xin được đi đánh giặc. May nhờ có đàn thần nên hắn một mình có thể đánh tan được quân đội của kẻ địch. Khi hắn thắng trận trở về thì nhà vua cùng quan quân trong triều đều hết lời khen ngợi, còn phong cho hắn chức đại tướng, và ban thưởng vô cùng hậu. Sau khi đã được hưởng giàu sang thì hắn không còn suy nghĩ tới người ân nhân trước kia của mình. Nhà vua sau đó còn có ý định gả con gái mình cho đại tướng nữa. Tuy nhiên thì vừa lúc hứa hôn xong thì công chúa đột nhiên bị câm. Bởi vậy mà hôn lễ giữa công chúa và đại tướng đành phải hoãn lại đợi khi nào công chúa được lành bệnh thì mới cử hành được. Nói về chuyện của anh chàng kia, lúc anh trở về thì lại thấy cây đàn quý đã mất tích, mà bạn ở chung cũng chẳng thấy đâu cả thì giờ mới vội vàng đi tìm. Khi vào tới kinh đô thì anh vô tình gặp lại người bạn ở chung ngày nào giờ đã ngồi trên kiệu sơn son thiếp vàng, bên cạnh còn có rất nhiều quân gia kéo theo hầu rất đông. Nhìn thấy người quen nên anh liền đón kiệu dừng lại để hỏi thăm. Tuy nhiên người kia chỉ vừa nhìn thấy anh – người ân nhân cũ của mình trước đây thì vội vàng thét lính kêu bắt trói người đó lại. Và rồi, vì sợ mọi chuyện về cây đàn bị bại lộ, hắn liền vu cho anh tội cấu kết với giặc ngoài, kêu người nhốt anh vào một nơi vô cùng kín đáo, cũng không cho ăn uống gì chỉ chờ tới ngày để đưa anh ra ngoài pháp trường xử chém. Lúc ở trong ngục tối, anh chỉ biết than thân trách phận mình thì từ đâu bầy kiến mà anh cứu ngày nào đã tìm được cách lọt vào trong ngục để hỏi thăm anh – Tại sao chàng lại bị giam ở đây thế? Anh chàng vô cùng ngơ ngác chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra cả, anh chỉ nghe thấy tiếng ai đó đang hỏi mình, vì vậy lập tức hỏi lại – Là ai đấy? Sao tôi lại nghe thấy tiếng nhưng lại không thấy người đâu cả? – Chúng tôi chính là bầy kiến mà ngày trước chàng đã cứu thoát khỏi nạn lụt, hiện giờ chúng tôi đang ở ngay dưới chân của chàng đây này. Anh chàng liền cúi đầu xuống và tìm kiếm, quả nhiên thấy đàn kiến đang bò lổm ngổm ở dưới đất. Anh liền kể lại cho chúng nghe toàn bộ mọi chuyện, kể về nông nỗi hiện tại của mình. Bầy kiến bảo với anh – Tuy rằng chúng tôi chẳng thể làm gì cho chàng, nhưng mà chúng tôi sẽ đi tìm con chuột ngày xưa chàng cứu, may ra thì chuột sẽ có kế sách gì để cứu được chàng. Vì vậy đàn kiến liền chia nhau ra khắp các phương hướng để tìm kiếm chuột. Khi tìm thấy chuột, cúng báo tin cho nó biết việc ân nhân của chúng đang gặp nguy hiểm. Chuột liền nói – Giờ chắc là chàng ấy đói lắm, hãy để tôi vào ngục và mang tới cho chàng chút thức ăn. Sau đó tôi sẽ đi tìm trăn thử xem nó có thể nghĩ ra mưu kế nào hay không. Chuột lẻn vào trong ngục, mang theo bánh cùng khoai mà nó đã lấy cắp được ở nhà hàng đem vào trong phòng giam cho anh chàng ăn tạm. Anh thấy vậy thì cảm động lắm. Sau đó thì cả gia đình của nhà chuột cùng nhau đi tìm kiếm con trăn ngày nào. Khi tới gần nhà của trăn thì cả nhà chuột đều vô cùng sợ hãi, chúng lo rằng trăn sẽ ăn thịt mình nên phải trèo lên tận cây cao mới dám gọi vọng xuống dưới – Này bác trăn! Này bác trăn! Trăn đang ở trong nhà thì nghe thấy có tiếng gọi, khi nó đi ra nhìn thì một con chuột đã già liền đánh bạo mà leo xuống và kể lại câu chuyện gặp nạn của người ân nhân. Nghe xong thì trăn liền nhả một viên ngọc ra rồi bảo chuột đem nó đưa tận tay cho ân nhân rồi bảo – Viên ngọc này ấy mà, khi mài thành bột thì có thể làm thuốc chữa bệnh câm đấy. Hãy bảo ân nhân của chúng ta đem nó đi chữa bệnh cho nàng công chúa, như thế thì chàng tất có thể thoát nạn này. Khi nhận được viên ngọc quý trăn gửi thì anh chàng lập tức kêu cai ngục tới và nói rằng mình có thể chữa lành bệnh cho công chúa. Và người ta liền đưa anh tới diện kiến nhà vua. Quả nhiên, công chúa sau khi uống xong thứ nước mà anh chàng đưa thì lập tức khỏi bệnh, nói chuyện lại được bình thường. Nhưng mà câu nói đầu tiên của nàng khi khỏi bệnh lại là đòi được lấy người đã cứu mình. Nhà vua vô cùng khen ngợi tài năng của anh chàng, liền triệu anh lại và hỏi vì sao lại có được thứ thuốc kì diệu thế. Sau đó anh chàng liền đem lại đầu đuôi của câu chuyện kể lại cho nhà vua nghe, anh kể lại câu chuyện từ lúc câu được con rắn nước, rồi lại cứu những con vật cùng người trong nạn lụt, rồi tới chuyện bị người mình cứu phản bội, sau đó là chuyện những con vật kia tìm cách để trả ơn mình, trong đó chính là chuyện trăn đã cho mình ngọc quý để chữa bệnh cho công chúa. Nhà vua nghe xong toàn bộ câu chuyện thì chậc lưỡi mà rằng – Đúng là bụng dạ của con người còn sâu hiểm hơn là những con vật có vẻ ngoài nguy hiểm nữa. Và ngay lập tức, nhà vua kêu lính bắt giam cái tên đại tướng bất nhân bất nghĩa kia giam lại để chờ ngày xét xử. Còn về chuyện của anh chàng kia, nhà vua liền phong cho anh làm quan, còn gả con gái mình cho anh. Kể từ đó anh được sống sung sướng vô cùng. Đến tận ngày nay thì người ta vẫn còn truyền nhau câu nói “Cứu vật vật trả ơn, cứu nhân nhân trả oán”. Câu này là dùng mỉa mai những kẻ sống lấy oán báo ân, còn thua kém cả những con vật nữa.
cứu vật vật trả ơn