cử chỉ tay trong giao tiếp
UBND huyện Chư Păh (tỉnh Gia Lai) vừa ban hành Kế hoạch Tổ chức Tuần lễ Hoa Dã quỳ - Núi lửa Chư Đang Ya năm 2022. Theo đó, Tuần lễ được tổ chức từ ngày 11 - 17/11 với trọng điểm là từ ngày 11 - 13/11 tại nhà rông làng Ia Gri, xã Chư Đang Ya. Tới Tây Nguyên vào trung tuần
5 CỬ CHỈ TAY KHIẾN GIAO TIẾP DỄ DÀNG HƠN. Ngôn ngữ cơ thể đóng một vai trò rất quan trọng trong giao tiếp thông thường. Nghiên cứu cho thấy ngôn ngữ cơ
BÃO SỐ 6. Dự báo trong 24 giờ tới bão số 6 di chuyển chủ yếu theo hướng Tây Tây Bắc với tốc độ khoảng 15km một giờ và tiếp tục mạnh thêm, đến 16 giờ chiều mai vị trí tâm bão số 6 ở vào khoảng 19,9N-117,5E, cách quần đảo Hoàng Sa khoảng 650km về phía Đông Bắc, cường độ bão mạnh cấp 11-12, giật cấp 14
Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá vừa có ý kiến chỉ đạo ngành chức năng nghiên cứu đề xuất của Sở Kế hoạch và Đầu tư về việc tạm dừng thực hiện chủ trương đầu tư dự án Khu đô thị mới phía Đông đường vành đai phía Tây, phường Đông Lĩnh (TP Thanh Hoá) có tổng chi phí thực hiện khoảng hơn 1.200 tỷ.
Ngôn ngữ cơ thể hay còn gọi là body language được hiểu đơn giản như một cái vuốt tóc, cách bạn đặt tay trên hông, cách bạn di chuyển, một cái bắt tay hay đơn giản chỉ là ánh mắt. Cử chỉ và biểu cảm của ngôn ngữ cơ thể có truyền tải rất nhiều thông điệp tương đương với sự giao tiếp qua lời nói.
Cử chỉ này còn có thể khiến người đang nói chuyện với bạn bị xao nhãng, thậm chí cảm thấy không được vệ sinh. Đây là thói quen nên được loại bỏ vì vừa dễ "mất điểm" trong giao tiếp, vừa khiến móng tay của bạn xấu đi. 6. Giao tiếp bằng mắt quá ít hoặc quá nhiều
whizzsihufle1985. Giới trẻ Cộng đồng mạng 1505 01/07/2016 Hai ngón tay bắt chéo vào nhau có ý nghĩa gì? Làm sao để nói “I love you” mà không cần dùng lời? Bạn có biết cử chỉ tay giúp truyền tải thông điệp dễ dàng hơn và làm tăng giá trị của thông tin lên đến 60%, chính vì thế hầu hết các diễn giả và những người phát ngôn có tầm ảnh hưởng nhất đều sử dụng cử chỉ tay trong khi nói chuyện hay phát biểu. Đây là một trong những ngôn ngữ giao tiếp không lời có khả năng kết nối nhanh nhất và dễ hiểu nhất trên thế giới, được con người ở mọi nền văn hóa sử dụng rộng rãi. Nhưng liệu bạn có hiểu hết ý nghĩa của chúng? Cách đếm số thứ tự, bằng cách này người nghe sẽ dễ hình dung và dễ nhớ hơn. Một thứ gì đó bé tí teo. “Để tôi nói cho mà biết nhé.” hoặc “Mình vừa nhớ ra một chuyện rất quan trọng.” “Nhỏ, trung bình, và lớn” hoặc “thấp, vừa, cao”. Ám chỉ mức độ cao thấp hay lớn nhỏ của một vật/việc gì đó. Bạn cũng có thể dùng cử chỉ này để nói về các giai đoạn từ thấp tới cao của một quá trình nào đó, chẳng hạn “Chúng ta sẽ bắt đầu với ý tưởng này giơ tay thấp, sau đó chúng ta sẽ cố gắng thúc đẩy nó giơ tay vừa, và cuối cùng sẽ hoàn thành nó giơ tay cao.” “Mọi người hãy nghe đây!” Đây là một cử chỉ vô cùng mạnh mẽ và dứt khoát, cho thấy điều bạn sắp nói ra là vô cùng quan trọng. Hành động ám chỉ bạn đang nói đến “tất cả mọi thứ”. Tuy nhiên nó cũng có một ý nghĩa khác là “dẹp hết qua một bên”, tùy vào ngữ cảnh. Ám chỉ một phần nhỏ nào đó của vấn đề bạn đang nói tới. Hoặc bạn dùng cử chỉ này để cho thấy suy nghĩ của bạn đã thay đổi từ cái này sang cái kia. Hòa bình hoặc chiến thắng. Chữ V với mu bàn tay hướng về phía trước cũng là hòa bình, có điều nếu như ở Anh, Úc, Nam Phi, Ireland, và New Zealand thì nó có nghĩa tương đương với ngón tay giữa. Cử chỉ này dùng để chọc quê người đối diện. Nó xuất phát từ một trò đùa của giới trẻ phương Tây, ở đó khi một người vừa ợ hay đánh trắm, họ sẽ đặt ngón tay cái lên trán hoặc chóp mũi giống như thế này và ngoắc ngoắc 4 ngón tay còn lại, người đối diện sẽ là người ngửi. Yeah! Rock lên nào! “Chuyện này/Việc này” “I love you!” Một cách dễ thương để nói “I love you!” “Làm tốt lắm!” Cử chỉ này có nghĩa làm chưa tốt hay đã thất bại rồi. “Lại đây nào!” “OK!” hoặc “Mọi thứ đều ổn!” Ở các nước phương Tây, khi một người bắt chéo hai ngón tay trỏ và giữa vào nhau, có nghĩa người đó đang cầu mong may mắn hay thuận lợi trong việc gì đó. Cử chỉ này có nghĩa bạn muốn ai đó dừng lại hoặc đứng yên ngay tại chỗ. Ngoài ra nó còn có nghĩa là “Tôi không muốn nói chuyện với bạn nữa”. L có nghĩa là “Loser”, đồ thất bại. Ảnh Internet Video có thể bạn quan tâm
Cập nhật vào 21/06Giao tiếp bằng cử chỉ mang lại rất nhiều lợi ích, góp phần rất lớn tạo nên thành công cho cuộc hội thoại. Có những hình thức giao tiếp cử chỉ nào? Tìm hiểu qua bài viết dưới đây của chúng tôi. 1. Giao tiếp bằng cử chỉ là gì?2. Vai trò của cử chỉ trong giao tiếp3. Các hình thức giao tiếp bằng cử chỉGiao tiếp bằng mắtBiểu hiện của ánh mắt khi giao tiếpGiao tiếp bằng nét mặtGiao tiếp bằng hành độngGiao tiếp bằng tư thế và điệu bộGiao tiếp thông qua động tác tay, chânGiao tiếp bằng giọng điệu1. Giao tiếp bằng cử chỉ là gì?Giao tiếp bằng cử chỉ là một bộ phận của giao tiếp phi ngôn ngữ, nó được sử dụng để mô tả thêm cho lời nói của người đang thực hiện diễn giả. Việc sử dụng các cử chỉ cũng thể hiện được sự tự tin hay không tự tin của người đang thực hiện ngữ cử chỉ bao gồm các cử động của tay, chân, đầu, khuôn mặt, ánh mắt, âm lượng/giọng điệu khi nói, tư thế đứng, tư thế chỉ là một phần của giao tiếp phi ngôn ngữ2. Vai trò của cử chỉ trong giao tiếpTrong những tình huống cụ thể, cử chỉ có những ý nghĩa nhất định. Giao tiếp bằng mắt, nét mặt, động tác cơ thể,… là một phần giao tiếp bằng cử chỉ. Nó góp phần quan trọng vào sự thành công trong giao nói và cử chỉ kết hợp phù hợp với nhau sẽ tác động hiệu quả hơn tới người giao tiếp đối diện. Khi bạn hiểu được ngôn ngữ cử chỉ, đôi khi sẽ giúp bạn nhìn thấy thái độ không lời của đối phương trước khi họ nói ra. Trong những lúc như vậy bạn có thể thay đổi tình thế kịp thời. Ngoài ra, trong những trường hợp tế nhị, cử chỉ có thể diễn tả thay cho lời nói khó thành nghiên cứu các nhà khoa học thì trong quá trình giao tiếp, lời nói bao gồm ba yếu tố ngôn ngữ, phi ngôn ngữ hay còn gọi là ngôn ngữ của cơ thể và giọng điệu. Ngôn ngữ, lạ thay chỉ góp phần nhỏ nhất 7% trong việc tác động đến người nghe, giọng điệu chiếm tới 38% và yếu tố phi ngôn ngữ lại trở nên quan trọng nhất vì sở hữu được 55%.Đồng thời các nhà khoa học cũng chỉ ra cử chỉ của con người biểu hiện so với lời nói chân thực hơn và ít dối trá hơn. Những tín hiệu không lời mang thông tin nhiều gấp 5 lần so với nói bằng lời. 75 % thông tin mà con người thu nhận được là qua kênh thị giác, qua kênh thính giác là của ý thức, chúng chủ yếu là những hành vi vô thức, là những thói quen, mà con người không hoặc ít nhận biết được. Chính vì vậy, đôi khi chúng ta có những cử chỉ gây khó chịu cho người đối thoại mà ta không nhận Các hình thức giao tiếp bằng cử chỉGiao tiếp bằng mắtĐôi mắt là bộ phận quan trọng nhất của con người. Tiếp xúc bằng mắt là điều kiện đầu tiên giúp bạn giao tiếp thành công. Tiếp xúc bằng mắt là một dấu hiệu đầy sức mạnh thể hiện sự kính trọng và quan tâm. Nếu bạn không nhìn một ai đó, họ sẽ nghĩ rằng bạn đang lo lắng, không chân thành hoặc thiếu quan tâm. Do vậy, trong khi trò chuyện, thỉnh thoảng hãy giao tiếp bằng mắt 1 đến 10 giây và hãy chú ý lắng hiện của ánh mắt khi giao tiếpTrong lúc trò chuyện, việc sử dụng đôi mắt đầy “ma lực” là cách thể hiện dễ dàng nhất để người nói biết được bạn có thực sự đang lắng nghe, chú ý đến họ hay là đang … ngán đến tận cổ như thế nào. Tuy nhiên, khi bạn luôn nhìn trực diện vào người nói, ánh mắt có thể toát lên vẻ trang nghiêm hay tươi rói, người nói sẽ hết sức phấn khởi vì họ cảm nhận được rằng, người nghe tôn trọng, thực tâm lắng nghe và hứng thú với những điều họ đang nói. Nếu như người nghe hạn chế sử dụng ánh mắt, người ta xem đó là biểu hiện của đau yếu, có mưu toan hoặc dối hiện của ánh mắt khi giao tiếpBạn có thể tham khảo thêm về cách giao tiếp ánh mắt để có thêm thông tin cần thiết cho kỹ năng quan trọng tiếp bằng nét mặtCon người có thể thể hiện chính mình hoặc biểu lộ cảm xúc, biểu lộ cái tôi thông qua sự biểu cảm ở khuôn mặt. Những trạng thái khác nhau biểu cảm trên khuôn mặt sẽ giúp bản thân mình tự tin hơn và dễ thành công hơn trong giao trong lòng thấy vui, khuôn mặt bạn trông thật rạng rỡ, các cơ trên mặt của bạn giãn căng. Ngược lại khi bạn buồn bực, trong lòng nặng trĩu thì các cơ trên khuôn mặt bạn cũng bị trùng xuống cho dù bạn có cố tình giấu đi tâm trạng đó những ngôn ngữ không lời trên khuôn mặt bạn lại cho thấy tất cười được xem là một trang sức trong lúc giao tiếp. Cười là dấu hiệu có tác động rất mạnh giúp truyền tải sự vui vẻ, thân thiện, nhiệt tình và thích thú. Cười thường dễ lây từ người này sang người khác và khiến cho việc giao tiếp được thuận lợi hơn. Người bạn giao tiếp sẽ cảm thấy thoải mái khi ở cạnh bạn và muốn lắng nghe bạn tiếp bằng hành độngThông thường, sau khi chào hỏi xã giao, người có kinh nghiệm bắt đầu chú ý đến các cử chỉ phi ngôn ngữ của người đối diện. Đó là những cử chỉ ở phái nữ như vuốt mái tóc hay lấy tay che miệng khi cười,… và những cử chỉ như huơ tay, nới cà vạt, … khi cuộc nói chuyện đang lên cao trào mà ta thường thấy ở phái nam. Có thể nói, trong rất nhiều tình huống, cử chỉ trợ giúp đắc lực cho lời nói. Nói kèm theo hành động phù hợp sẽ tác động hiệu quả hơn tới người giao nghiên cứu thực tế cho thấy rằng Bàn tay đưa lên ngực khi nói là một cử chỉ biểu hiện sự chân thật, chân thành. Ngón tay cái đưa lên cằm là cử chỉ biểu lộ thái độ chỉ trích và tiêu cực. Cử chỉ xoa cằm chỉ sự kiên định, quả quyết. Khi ai đó xoa mũi có nghĩa họ không muốn đề cập đến chủ đề này nữa. Cử chỉ đặt cặp kính lên môi có nghĩa là người đó đang do dự hay trì hoãn việc đưa ra quyết tiếp bằng tư thế và điệu bộNgười ta chuyển tải được hàng tấn thông điệp thông qua việc phát ngôn và chuyển động cơ thể. Ví dụ Khi tư thế đứng thẳng lưng, ngả người về phía trước, người ta sẽ hiểu bạn là người dễ gần, dễ tiếp thu và thân thiện. Tư thế ngồi nghiêm, cứng nhắc gây cho người đối diện có cảm giác bạn là người quá cứng nhắc, bảo thủ và nguyên tắc trong công việc. Tư thế ngồi khoanh tay trước ngực thể hiện sự kiêu căng, đôi khi bất lịch sự. Còn khoanh tay trên bàn lại là tư thế thụ động và thiếu tự cách và vị trí ngồi trong giao tiếp đều thể hiện thái độ, mục đích của mỗi người. Khi đứng nói chuyện trực diện, mặt đối mặt, điều đó thể hiện bạn muốn trò chuyện thẳng thắn, thân thiện về vấn đề nào đó. Khoảng cách và vị trí giữa hai người khi trò chuyện cho thấy bạn tôn trọng không gian riêng tư của người bạn đứng quá gần, người nghe sẽ cảm thấy mình bị lấn át và tỏ ra không dễ chịu. Một khoảng cách hợp lý giữa hai người sẽ tạo nên sự hài hòa, thoải mái trong buổi nói nghiêm túc, thẳng lưng, điều này cho thấy đó là người đang chú ý lắng nghe người đối diện đang trượt dài trên ghế, nó cho thấy người này đang không chú ý đến người đối diện đang nói gì, hoặc thể hiện một sự thiếu hợp tiếp thông qua động tác tay, chânKhi không thể diễn đạt được bằng lời nói, tốt hơn hết chúng ta nên sử dụng điệu bộ. Điệu bộ phản ánh chính xác, cảm giác, thái độ và ý định của con động tác tayNhiều người có quan điểm sai lầm rằng “vung vẫy” tay càng nhiều trong lúc nói chuyện thì hình ảnh của họ càng trở nên lôi cuốn. Trong thực tế, bạn chỉ nên sử dụng bàn tay để diễn giải vấn đề thêm rõ ràng trước người nghe. Hoạt động của bàn tay trong quá trình nói chuyện nên đúng mực, kết hợp khéo léo với quan điểm, thái độ bản thân, hoặc gắn kết với cao trào của câu chuyện cũng như tầm quan trọng của vấn tác tay, chân khi giao tiếp cũng thể hiện nhiều cảm xúcNếu khi đang nói chuyện người này có biểu hiện tì cả khuôn mặt lên lòng bàn tay, đó là dấu hiệu cho thấy bạn nói chuyện… nhạt như nước ốc. Còn nếu họ tì một ngón tay lên mặt, ấy là bạn đã thành công trong việc thu hút sự chú ý của người đối người đối diện bạn khoanh tay lại, chứng tỏ họ đang khép kín mình lại với các tác động bên ngoài. Mặc dù, một số người hành động chỉ theo thói quen nhưng điều đó cũng thể hiện rằng tính cách người đó khá dè dặt và không thoải mái lắm hay đang cố che giấu cái gì với một số người vừa khoanh tay lại vừa dang chân rộng ngang vai hay rộng hơn, điều này thể hiện đức tính bền bỉ, hoặc quyền uy của người này khá một người đặt tay ra sau gáy, điều đó thể hiện họ đang khó chịu hoặc đang lừa dối một người giơ tay lên sờ cằm, họ đang đánh giá, xem xét điều gì đó hoặc họ đang buồn người liên tục chạm vào cổ tay hay đồng hồ chứng tỏ họ đang rất bồn chồn và lo đút 2 tay vào túi quần khi nói chuyện cũng là tư thế cho thấy sự thiếu hứng này nắm lấy tay kia ở phía sau ở góc thấp là tư thế buồn bã, thất vọng. Nếu nắm ở góc cao, đó là tư thế tức giận. Còn khi chắp tay, nắm chặt cả 2 bàn tay ở sau lưng, tư thế này thể hiện sự ra oai với đối động tác của đôi chânKhi một người muốn kết thúc cuộc nói chuyện, hai tay họ thường chống xuống mặt ghế, người đổ về phía trước, chân đặt lùi ra sau chéo chân là một tư thế rất xấu khi nói chuyện. Tư thế ngồi này thể hiện sự ương ngạnh, hằn học, và không tôn trọng ý kiến người số người hướng bàn chân của họ về hướng mà họ muốn đi hay đang quan tâm. Vì vậy khi đang đứng nói chuyện hoặc giao tiếp, nếu bạn thấy người đối diện hướng bàn chân về một hướng khác, điều đó cho thấy bạn nên kết thúc sớm cuộc giao tiếp này. Còn nếu thấy bàn chân đối phương đang hướng thẳng về mình, chúc mừng bạn, bạn đã thành công thu hút người đó về những điều mình đang tiếp bằng giọng điệuGiao tiếp phi ngôn ngữ còn biểu hiện ở cách phát âm như chất giọng, độ cao thấp lên giọng, xuống giọng, nhịp điệu, âm sắc, tính kịch liệt hưởng ứng hay phản kháng, cách chuyển tông điệu.…Những chia sẻ về giao tiếp phi ngôn ngữ khác bạn có thể tham khảo thêm tại câu chuyện kinh luận Bài viết trên đã chia sẻ với các bạn những thông tin hữu ích về các hình thức giao tiếp bằng cử chỉ. Lời khuyên dành cho các bạn là chú ý những cử chỉ khi giao tiếp để tạo ấn tượng với đối phương ngay từ lần gặp đầu tiên nhé!Tác giả Phù Thủy Xin chào mọi người, mình là Phù Thủy, mình có đam mê với đồ ăn và đi du lịch khám phá khắp nơi. Sở thích của mình viết bài về nội thất và gia đình. Hiện tại mình đang chịu trách nhiệm viết bài cho trang nội thất Đức Khang, các bài viết đều được mình tổng hợp biên tập lại từ những nguồn uy tín về nội thất. Mình đang viết review sản phẩm bục phát biểu – bục tượng Bác thương hiệu Hòa Phát tại website các bạn ủng hộ mình nhé.
Nhiều thứ tạo nên ngôn ngữ cơ thể của bạn, từ tư thế, ánh mắt, nét mặt và chuyển động cơ thể mà cụ thể là cử chỉ tay. Cử chỉ tay trong giao tiếp là bất cứ khi nào bạn di chuyển tay để diễn đạt hoặc nhấn mạnh một ý tưởng. *** Vì sao cử chỉ tay trong giao tiếp lại quan trọng? Có 4 lý do chính khiến cử chỉ tay quan trọng khi nói chuyện với người khác hoặc phát biểu - Cử chỉ tay có thể giúp mô tả những gì bạn đang nói, theo cả nghĩa đen khi nói về hình tròn, bạn có thể vẽ một đường tròn bằng tay lẫn nghĩa bóng bạn có thể dùng tay di chuyển thành vòng tròn để nói “tất cả mọi người”. - Cử chỉ tay giúp bạn nhấn mạnh và tạo cấu trúc khi nói chuyện ví dụ, liệt kê 1, 2, 3… và người nghe có thể hiểu được các điểm chính một cách nhanh chóng. - Cử chỉ tay thể hiện trạng thái cảm xúc của bạn. Những cử chỉ này không phải lúc nào cũng đồng bộ với những gì bạn đang nói ví dụ, bạn có tự tin không, bạn có đang nói dối không hoặc bạn có lo lắng không. - Cử chỉ tay hỗ trợ bạn giao tiếp dễ dàng hơn với người nói ngôn ngữ khác. Chẳng hạn, nếu không thể sử dụng tiếng Anh thành thạo, thì bạn có thể giải thích ý tưởng của mình tốt hơn và có một cuộc trò chuyện vui vẻ với người bản xứ bằng cử chỉ tay. Cử chỉ tay là một cách khác để thể hiện bản thân. Tuy nhiên, bạn phải cẩn thận với những gì nên làm và không nên làm với đôi tay vì chúng có thể xác định cách người nghe nhìn nhận về bạn. Nếu bạn không sử dụng cử chỉ tay trong giao tiếp hoặc có các động tác tay vụng về, mọi người sẽ đánh giá bạn là người lạnh lùng và xa cách. Tuy nhiên, nếu bạn sử dụng cử chỉ tay trong giao tiếp phù hợp, người nghe sẽ cảm nhận bạn là người lôi cuốn và hấp dẫn. Dưới đây là một số điều cần lưu ý khi sử dụng cử chỉ tay phải để đạt hiệu quả giao tiếp tốt nhất. 1. Để mở và ngửa lòng bàn tay Giữ lòng bàn tay ngửa và hơi mở cho thấy bạn là người cởi mở và trung thực. Điều này sẽ khuyến khích người nghe tham gia vào cuộc trò chuyện và khiến họ cảm thấy thoải mái. Bằng cách úp lòng bàn tay xuống mà không hề nhận ra, giọng điệu của bạn nghe hơi đe dọa và khiến người nghe có cảm giác phải phục tùng. 2. Tạo hình tháp thay vì nắm chặt hai tay Để các đầu ngón tay chạm vào nhau, ngón trỏ giương lên, hai lòng bàn tay hở nhẹ, các ngón trải đều là thói quen phổ biến mà nhiều người nổi tiếng sử dụng để truyền tải thông điệp về sự tự tin, điển hình là Steve Jobs. Và nếu chú ý bạn sẽ thấy ông không bao giờ nắm chặt hai tay vì nó thể hiện sự bồn chồn và lo lắng. Chạm các đầu ngón tay theo hình tháp thường được sử dụng trong những thời điểm trung gian, chẳng hạn như khi bạn đang suy nghĩ hoặc chuyển đổi chủ đề. "Đừng sử dụng cử chỉ tay trong giao tiếp quá nhiều. Chỉ cần giữ cử chỉ ở mức tối thiểu để mọi người có thể tập trung vào lời nói của bạn." 3. Không đặt tay lên hông hoặc chắp tay sau lưng - Bạn nghĩ mình trông như thế nào với hai tay chống nạnh? Có phải hơi giống người lớn đang la rầy trẻ con? Đó là cách mọi người sẽ cảm thấy. Suy nghĩ này khiến bạn có vẻ kém chuyên nghiệp và người nghe cho rằng bạn đang cố gắng ra lệnh thay vì hướng dẫn họ. - Đặt tay sau lưng khiến bạn trông lúng túng và nghiêm túc. Bàn tay là công cụ của bạn, vì vậy hãy sử dụng chúng để truyền đạt thông điệp hiệu quả hơn bằng cách minh họa các số bằng ngón tay hoặc độ dài bằng bàn tay. Người nghe sẽ bị thu hút và chú ý nhiều hơn đến quan điểm của bạn. 4. Đừng chỉ trỏ Dù bạn làm gì, đừng chỉ tay. Chỉ tay thể hiện sự gây hấn và sẽ khiến mọi người cảm thấy khó chịu. Nếu bạn thấy mình chỉ trỏ nhiều trong khi giao tiếp, hãy tìm cử chỉ khác thay thế, chẳng hạn như tư thế chìa ra như bắt tay. Và nếu nhất thiết phải chỉ trỏ, hãy chỉ vào một đối tượng vật lý nào đó và tránh chỉ vào người. 5. Giữ tay ở khoảng cách hợp lý Khoảng cách hợp lý từ là hông đến ngay dưới vai của bạn. Đôi khi cử chỉ tay sẽ đi ra ngoài khu vực này và điều đó không sao cả, tuy nhiên nói chung, bạn nên cố gắng giữ cho cử chỉ của mình trong khoảng không gian này vì đây là khu vực cử chỉ tự nhiên nhất. Nếu đi lang thang bên ngoài “vùng an toàn” theo thói quen, bạn có nguy cơ khiến người nghe mất tập trung với cử chỉ của mình. 6. Nhớ thư giãn - Thỉnh thoảng, hãy tạm dừng các cử chỉ tay trong giao tiếp và để tay thư giãn bên hông một cách tự nhiên. Tạm dừng các cử chỉ tay sẽ đảm bảo rằng những cử chỉ ý nghĩa nhất của bạn sẽ tạo ra tác động lớn nhất. - Ví dụ, nếu bạn biết mình cần sử dụng cử chỉ tay trong những thời điểm quan trọng nhất, hãy để tay nghỉ ngơi ngay trước khi thực hiện. Khoảng nghỉ này sẽ giúp nhấn mạnh những điểm chính một cách mạnh mẽ. Nếu đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, thì đôi tay chính là sợi dây kết nối bạn với người khác. Sử dụng cử chỉ tay trong giao tiếp đúng lúc, đúng người, đúng hoàn cảnh sẽ giúp truyền tải thông điệp chính xác, thu hút người nghe và nâng cao vị thế của bạn với tư cách là người giao tiếp tốt hơn.
Cử chỉ được tạo nên bởi tay, cánh tay hoặc cơ thể, và cũng bao gồm cả chuyển động của đầu, khuôn mặt và mắt, ví dụ như nháy mắt, gật đầu hoặc đảo mắt. Mặc dù những nghiên cứu về cử chỉ vần còn sơ sài, nhưng một số nhóm cử chỉ chính đã được xác định bởi các nhà nghiên cứu. Những cử chỉ phổ biến nhất được gọi là cử chỉ biểu trưng và cử chỉ trích dẫn. Những cử chỉ này có tính tập quán, những cử chỉ mang đặc trưng văn hóa có thể sử dụng thay thế cho ngôn ngữ, ví dụ như vẫy tay được sử dụng trong văn hóa phương Tây để ám chỉ “xin chào” hoặc “tạm biệt”. Mỗi cử chỉ biểu trưng có thể mang những ý nghĩa rất khác nhau trong những bối cảnh văn hóa khác nhau, từ khen ngợi cho tới cực kì khó chịu.[21] Có một số cử chỉ mang tính toàn cầu ví dụ như nhún vai.[6]Cử chỉ cũng có thể phân chia thành hai nhóm là cử chỉ phụ thuộc vào lời nói và cử chỉ liên quan tới lời nói. Cử chỉ phụ thuộc vào lời nói phụ thuộc vào việc giải thích được chấp nhận về mặt văn hóa và có một ý nghĩa phi ngôn ngữ trực tiếp.[12]9 Một cái vẫy tay hay một biểu tượng “hòa bình” là ví dụ cho cử chỉ phụ thuộc vào lời nói. Cử chỉ liên quan đến lời nói được sử dụng song song với lời nói, dạng giao tiếp phi ngôn ngữ này dùng để nhấn mạnh thông điệp đang được truyền tải. Cử chỉ liên quan đến lời nói nhằm mục đích cung cấp thông tin bổ sung cho một thông điệp bằng lời như chỉ vào một vật thể trong cuộc tranh cảm khuôn mặt, hơn tất cả, phục vụ như một phương thức thực tế của giao tiếp. Với nhiều nhóm cơ kiểm soát một cách chính xác miệng, môi, mắt, mũi, trán và cằm, khuôn mặt con người được cho rằng có khả năng biểu hiện hơn mười ngàn cảm xúc khác nhau. Sự linh hoạt này khiến tính phi ngôn ngữ của khuôn mặt đặc biệt hiệu quả và chân thực, trừ khi có sự cố tình thao túng. Thêm vào đó, đa số những cảm xúc sau đây, bao gồm vui vẻ, buồn bã, tức giận, sợ hãi, ngạc nhiên, khó chịu, xấu hổ, đau khổ và thích thú mang tính toàn cầu.[22]Hiển thị của cảm xúc nói chung có thể chia thành hai nhóm tiêu cực và tích cực. Cảm xúc tiêu cực thường biểu hiện bởi sự gia tăng căng thẳng trong các nhóm cơ siết chặt cơ hàm, nhăn trán, nheo mắt hoặc mím môi khi mà đôi môi gần như biến mất. Đối lập lại, cảm xúc tích cực được thể hiện thông qua sự nới lỏng của các nếp nhăn trên trán, thư giãn các cơ quanh phần miệng và mở to mắt. Khi một cá nhân thực sự thư giãn và thoải mái, thì đầu của họ cũng sẽ ngả sang một bên, để lộ ra phần cổ, nơi dễ bị tổn thương nhất. Đây là tư thế thoải mái cao độ nhất, thường nhìn thấy trong giai đoạn tán tỉnh, và gần như không thể bắt chước trong khi căng thẳng hoặc nghi ngờ.[23]Cử chỉ có thể chia thành ba nhómMô phỏngMột số chuyển động của bàn tay không được coi là cử chỉ. Chúng bao gồm các thao tác đối với cả người và một số vật dụng ví dụ như quần áo, bút chì, mắt kính – các loại chuyển động mà một người thường làm bằng tay như gãi, cựa quậy, cọ sát, chạm và gõ nhịp. Những hành động đó được gọi là mô phỏng. Những chuyển động này có thể không có ý nghĩa liên quan đến lời nói mà nó đi cùng nhưng có thể coi là cơ sở để xác định khuynh hướng cảm xúc của người nói lo lắng, khó chịu, buồn chán[7]Biểu tượngNhững chuyển động của bàn tay khác lại được coi là cử chỉ. Chúng là những chuyển động với một ý nghĩa cụ thể, có tính quy ước được gọi là cử chỉ mang tính biểu tượng. Những cử chỉ tượng trưng quen thuộc bao gồm “vung tay”, “tạm biệt” và “ngón tay cái hướng lên”. Đối lập với cử chỉ mô phỏng, cử chỉ mang tính biểu tượng được sử dụng một cách có chủ định và phục vụ một chức năng giao tiếp rõ ràng. Mỗi nền văn hóa có những quy ước về cử chỉ của riêng họ, mà một số là đặc biệt đối với một nền văn hóa cụ thể. Những cử chỉ rất giống nhau có thể có những ý nghĩa rất khác biệt giữa các nền văn hóa. Cử chỉ mang tính biểu tượng thường được dùng thay thế cho lời nói, nhưng cũng có thể dùng kèm với lời nói.[7]Đối thoạiNằm giữa cử chỉ mô phỏng và cử chỉ mang tính biểu tượng chính là cử chỉ đối thoại. Những cử chỉ này không bổ sung cho hành động hay từ ngữ nhưng lại đi kèm với lời nói. Những cử chỉ đối thoại là chuyển động của bàn tay đi kèm với lời nói hoặc là có liên quan tới lời nói mà chúng đi kèm. Chính vì chúng luôn đi kèm với lời nói nên cử chỉ đối thoại không bao giờ thấy trong trường hợp vắng mặt lời nói và chỉ được tạo ra bởi những người đang nói.[7]
cử chỉ tay trong giao tiếp